Viêm màng ngoài tim – Nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị

Viêm màng ngoài tim là bệnh lý về tim mạch trong đó màng ngoài tim bị viêm, nhiều trường hợp còn kèm theo tràn dịch. Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh viêm màng ngoài tim để lại biến chứng cực kỳ nguy hiểm. Vậy viêm màng ngoài tim là gì, nguyên nhân, cách điều trị như thế nào?

I. Bệnh viêm màng ngoài tim là gì?

Viêm màng ngoài tim là gì?
Viêm màng ngoài tim là gì?

Viêm màng ngoài tim là tình trạng viêm kích thích của màng ngoài tim, màng mỏng bao quanh tim. Viêm màng ngoài tim thường gây ra đau ngực và đôi khi các triệu chứng khác.

Viêm màng ngoài tim thường đột ngột và ngắn (cấp tính). Khi các triệu chứng dần dần phát triển thêm hoặc kéo dài, tình trạng này được coi là mãn tính. Cơn đau ngực mạnh liên kết với viêm màng ngoài tim xảy ra khi bị viêm hay bị kích thích, hai lớp màng ngoài tim chà, cọ sát với nhau.

Bệnh viêm màng ngoài tim thường bắt đầu đột ngột nhưng không kéo dài (cấp tính). Khi các triệu chứng phát triển dần dần hoặc kéo dài, viêm màng ngoài tim được coi là mãn tính.

II. Nguyên nhân gây ra bệnh viêm màng ngoài tim

Bệnh viêm màng ngoài tim có thể do một số nguyên nhân sau:

  • Nguyên nhân viêm màng ngoài tim thường khó xác định. Trong hầu hết các trường hợp, các bác sĩ không thể xác định nguyên nhân (vô căn) hoặc nghi ngờ nhiễm virus.
  • Viêm màng ngoài tim cũng có thể phát triển sau một cơn đau tim lớn, do sự kích thích của cơ tim bị tổn thương tiềm ẩn. Ngoài ra, một dạng viêm màng ngoài tim chậm trễ có thể xảy ra vài tuần sau khi bị đau tim hoặc phẫu thuật tim.
  • Viêm màng ngoài tim chậm trễ này được gọi là hội chứng Dressler. Hội chứng Dressler cũng có thể được gọi là hội chứng cắt bỏ sau phẫu thuật, hội chứng nhồi máu sau cơ tim và hội chứng chấn thương sau tim.

Các nguyên nhân khác gây viêm màng ngoài tim bao gồm:

  • Bệnh tự miễn toàn thân: có thể bao gồm lupus và viêm khớp dạng thấp.
  • Chấn thương: chấn thương ở tim hoặc ngực có thể dẫn đến viêm màng ngoài tim 
  • Một số bệnh lý khác: có thể bao gồm suy thận, AIDS, bệnh lao và ung thư.
  • Một số loại thuốc có thể gây viêm màng ngoài tim

III. Triệu chứng của bệnh viêm màng ngoài tim

Triệu chứng của bệnh viêm màng ngoài tim có thể do một hoặc nhiều triệu chứng sau:

Trường hợp bình thường, túi màng ngoài tim hai lớp bao quanh trái tim  có chứa một lượng nhỏ chất lỏng bôi trơn. Trong viêm màng ngoài tim, túi bị viêm và ma sát từ túi bị viêm dẫn đến đau ngực.

Viêm màng ngoài tim tùy thuộc phân loại, thời gian mà có các triệu chứng khác nhau. Viêm màng ngoài tim cấp tính thường kéo dài dưới ba tuần, có thể  kéo dài khoảng bốn đến sáu tuần nhưng ít hơn ba tháng và liên tục.

Viêm màng ngoài tim được mô tả là tái phát nếu nó xảy ra khoảng bốn đến sáu tuần sau một đợt viêm màng ngoài tim cấp tính với một khoảng thời gian không có triệu chứng ở giữa. Viêm màng ngoài tim được coi là mãn tính nếu các triệu chứng kéo dài hơn ba tháng.

Viêm màng ngoài tim cấp tính: Triệu chứng phổ biến nhất là đau ngực dữ dội, đau như dao đâm, vị trí đầu sau xương ức hoặc ở bên trái ngực. Tuy nhiên, một số người bị viêm màng ngoài tim cấp tính mô tả cơn đau ngực của họ là âm ỉ, đau hoặc giống như áp lực, và có cường độ khác nhau.

Cơn đau của viêm màng ngoài tim cấp tính có thể lan lên vai và cổ trái. Nó thường tăng lên khi ho, nằm xuống hoặc hít sâu. Ngồi lên và nghiêng về phía trước thường có thể làm dịu cơn đau. Đôi khi, có thể khó phân biệt đau màng ngoài tim với cơn đau xảy ra khi bị đau tim.

Biểu hiện của viêm màng ngoài tim
Biểu hiện của viêm màng ngoài tim

Viêm màng ngoài tim mãn tính thường liên quan đến viêm mãn tính và có thể dẫn đến chất lỏng xung quanh tim (tràn dịch màng ngoài tim). Triệu chứng phổ biến nhất của viêm màng ngoài tim mạn tính là đau ngực.

Tùy thuộc vào loại, các dấu hiệu và triệu chứng của viêm màng ngoài tim có thể bao gồm một số hoặc tất cả những điều sau đây:

  • Đau nhói, xuyên ngực ở trung tâm hoặc bên trái ngực, thường dữ dội hơn khi hít vào
  • Khó thở khi ngả
  • Đánh trống ngực
  • Sốt thấp
  • Một cảm giác yếu đuối, mệt mỏi hoặc cảm thấy ốm yếu
  • Ho

IV. Những người dễ mắc viêm màng ngoài tim

Nếu bạn thuộc một trong những trường hợp sau, khả năng cao bạn đã mắc phải bệnh viêm màng ngoài tim.

  • Những người mắc bệnh tự miễn toàn thân: có thể bao gồm lupus và viêm khớp dạng thấp.
  • Những người bị chấn thương: chấn thương ở tim hoặc ngực có thể dẫn đến viêm màng ngoài tim 
  • Những người mắc các bệnh lý: Có thể bao gồm suy thận, AIDS, bệnh lao và ung thư.
  • Những người sử dụng một số loại thuốc có thể gây viêm màng ngoài tim
  • Những người vừa phẫu thuật đau tim hay sau một cơn đau tim lớn.

V. Các chẩn đoán bệnh viêm màng ngoài tim

Bác sĩ có thể sẽ bắt đầu bằng hỏi tiền sử bệnh và đặt câu hỏi về đau ngực và các triệu chứng khác như đau sau xương ức, đau dữ dội hay từ từ, đau tăng khi hít sâu, giảm khi nằm hay ngồi cúi ra trước. Là một phần của đánh giá ban đầu, bác sĩ cũng sẽ thực hiện kiểm tra toàn diện về thể chất và kiểm tra âm thanh tim.

Khi nghe tim, bác sĩ đặt một ống nghe trên ngực để kiểm tra các âm thanh đặc trưng của viêm màng ngoài tim, được thực hiện khi các lớp màng ngoài tim chà xát với nhau. Tiếng ồn này đặc trưng được gọi là cọ màng ngoài tim.

Bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm trợ giúp có thể xác định xem đã có một cơn đau tim, dịch thu được trong túi màng ngoài tim, hoặc có những dấu hiệu của viêm. Bác sĩ có thể sử dụng xét nghiệm máu để xác định xem loại vi khuẩn hoặc nhiễm trùng khác. Cũng có thể trải qua một hoặc nhiều hơn các thủ tục chẩn đoán sau đây:

  • Điện tâm đồ

Điện tâm đồ sẽ diễn biến qua 4 giai đoạn. Đây là xét nghiệm rất có giá trị để chẩn đoán xác định, chẩn đoán phân biệt và đánh giá giai đoạn viêm màng ngoài tim cấp

  • Giai đoạn đầu thường xuất hiện vài giờ sau khi xuất hiện cơn đau ngực đầu tiên. Đây là giai đoạn rất khó phân biệt với dấu hiệu tái cực sớm hay nhồi máu cơ tim cấp trên điện tâm đồ. Kinh điển giai đoạn 1 sẽ gồm các dấu hiệu đoạn ST chênh lên đồng hướng với sóng T dương ở các chuyển đạo trước tim.
  • Giai đoạn thứ hai xuất hiện vài ngày sau với đoạn ST trở về đường đẳng điện, sóng T dẹt xuống.
  • Giai đoạn ba là giai đoạn sóng T âm đảo ngược.
  • Giai đoạn bốn: Sau vài ngày đến vài tuần sóng T sẽ dương trở lại, đây là giai đoạn cuối cùng của bệnh.

Nếu viêm màng ngoài tim cấp có tràn dịch màng tim, bệnh nhân có thể có dấu hiệu điện thế giảm (nhất là ở các chuyển đạo ngoại vi) và dấu hiệu so le điện thế.

  • Chụp tim phổi

Hình tim to thường chỉ thấy trong các trường hợp có tràn dịch màng ngoài tim phối hợp và đây cũng không phải là dấu hiệu đặc hiệu giúp chẩn đoán bệnh viêm màng ngoài tim cấp.

Cấy máu, cấy đờm và dịch hút dạ dày

Có khả năng giúp chẩn đoán một số các trường hợp viêm màng ngoài tim cấp phức tạp như do lao (sau 1 tuần), nhiễm khuẩn huyết hay viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

  • Xét nghiệm máu

Thường có tăng bạch cầu, máu lắng tăng và tăng men creatine phosphokinase MB.

  • Siêu âm tim

Siêu âm tim thường được chỉ định trong các trường hợp ở giai đoạn sau của bệnh viêm màng ngoài tim cấp (vài tuần sau dấu hiệu lâm sàng đầu tiên xuất hiện) hay khi có biến đổi huyết động tuy nhiên cũng có thể thực hiện thường quy trong tất cả các trường hợp để chẩn đoán loại trừ.

Dấu hiệu có thể gặp trên siêu âm là khoảng trống siêu âm do dịch màng ngoài tim gây ra (8 đến 15% các trường hợp viêm màng ngoài tim cấp). Hiếm gặp hơn có thể có dấu hiệu màng ngoài tim dày hơn so với bình thường.

Mặt khác trong các trường hợp bệnh nhân viêm màng ngoài tim cấp mới phẫu thuật tim hay nghi ngờ có tràn dịch màng tim, lúc này siêu âm tim trở thành xét nghiệm khá quan trọng, cần thực hiện nhiều lần để đánh giá sự tiến triển của bệnh viêm màng ngoài tim cấp.

  • Các xét nghiệm khác

Siêu âm tim qua thực quản, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân có thể áp dụng trong một vài trường hợp cá biệt để nghiên cứu kỹ hơn về màng ngoài tim.

  • Chẩn đoán phân biệt

Đau ngực do bóc tách thành động mạch chủ, nhồi máu phổi, viêm phổi hay nhồi máu cơ tim.

Biến đổi điện tâm đồ cần phân biệt với các biến đổi do thiếu máu cơ tim cục bộ gây ra. Diễn biến của đoạn ST và sóng T cho phép phân biệt trong đại đa số các trường hợp. Tuy nhiên ở các trường hợp ST chênh lên lan tỏa các chuyển đạo cần làm siêu âm để chẩn đoán loại trừ nhồi máu cơ tim (tìm rối loạn vận động vùng trên siêu âm tim).

VI. Bệnh viêm màng ngoài tim có nguy hiểm không?

Bệnh viêm màng ngoài tim nếu không có giải pháp điều trị kịp thời sẽ cực kỳ nguy hiểm với người bệnh. Viêm màng ngoài tim có thể khiến cho màng tim hóa sẹo, trở nên mỏng hơn và tim bị siết lại.

Khi lượng dịch đọng lại trong màng tim quá nhiều, hậu quả tạo ra áp lực lớn lên tim, khiến cho tim không thể thực hiện toàn vẹn chức năng bơm máu như bình thường. Đối với trường hợp nặng, huyết áp có thể giảm thấp, gây nguy hiểm đến tính mạng.

  1. Tràn dịch màng ngoài tim có hay không có chèn ép tim

Viêm màng ngoài tim có nguy cơ gây tích tụ dịch thấm, dịch tiết, hoặc máu trong túi màng ngoài tim. Áp lực bên trong màng ngoài tim tăng cao do xảy ra tình trạng tràn dịch màng ngoài tim (nhất là ở những vùng tích tụ dịch), gây áp lực lên các buồng tim, dẫn đến hiện tượng chèn ép tim. Đây là một trong những biến chứng viêm màng ngoài tim nguy hiểm.

Trong trường hợp có rối loạn huyết động, viêm màng ngoài tim có mủ hoặc nghi ngờ cao có khối u, bệnh nhân cần được chọc màng ngoài tim. Trước đó, cần tiến hành dẫn lưu hết dịch và phân tích dịch để tìm glucose, protein và lactate dehydrogenase. Bên cạnh đó, cần xét nghiệm kiểm tra số lượng tế bào, soi mẫu dưới kính hiển vi, nếu cần thiết phải tiến hành nuôi cấy vi khuẩn và/hoặc virus và kiểm tra tế bào học.

Trong một số tình huống nhất định, không thể thực hiện chọc màng ngoài tim qua da và cần dẫn lưu phẫu thuật cho bệnh nhân. Phương pháp tiếp cận dưới mũi ức nói chung có tỷ lệ biến chứng <1% và khả năng tái phát tràn dịch là 8%. Nếu nghi ngờ bệnh nhân đang mắc bệnh ác tính hoặc u hạt, cần thực hiện sinh thiết màng ngoài tim để kiểm tra.

  1. Viêm màng ngoài tim co thắt mạn tính

Hầu hết các trường hợp viêm màng ngoài tim co thắt mạn tính xảy ra trong vòng 3 đến 12 tháng sau khi xuất hiện thương tổn màng ngoài tim. Đây là biến chứng viêm màng ngoài tim có thể dẫn đến tử vong, tuy nhiên tỷ lệ xảy ra khá hiếm và tập trung chủ yếu ở các nước phát triển.

Những đối tượng có nguy cơ cao mắc biến chứng này thường là những bệnh nhân đã tiến hành phẫu thuật tim trước đó (tỷ lệ mắc bệnh từ 0,2% đến 0,3%), đã từng xạ trị hoặc viêm màng ngoài tim vô căn (không xác định được nguyên nhân). Bệnh lao là nguyên nhân thường gặp nhất ở các nước đang phát triển.

Trong thời gian lành bệnh, mô hạt có khả năng sẽ thay thế hoàn toàn khoang màng ngoài tim. Điều này dẫn tới sự xuất hiện của sẹo dày đặc, bao quanh tim và cản trở dòng máu đổ đầy tâm thất. Trong trường hợp này, cần phẫu thuật để cắt bỏ màng ngoài tim.

Các biến chứng của viêm màng ngoài tim có thể từ mức độ nhẹ đến nặng, thậm chí gây tử vong. Tuy nhiên ,hầu hết các ca bệnh ghi nhận được đều là nhẹ và có thể tự cải thiện dần. Đối với những trường hợp nặng hơn, phương pháp điều trị có thể bao gồm sử dụng thuốc và phẫu thuật (hiếm gặp). Mặt khác, việc chẩn đoán và điều trị từ sớm có thể làm giảm nguy cơ xảy ra biến chứng lâu dài do viêm màng ngoài tim.

VII. Các biện pháp điều trị bệnh viêm màng ngoài tim

1. Điều trị viêm màng ngoài tim bằng thuốc

Tùy vào tình trạng bệnh của bệnh nhân, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc theo đúng tình trạng. Các loại thuốc để giảm viêm và sưng liên quan đến viêm màng ngoài tim thường được kê đơn, bao gồm:

  • Thuốc giảm đau: các cơn đau liên quan đến viêm màng ngoài tim đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc giảm đau có sẵn mà không cần toa bác sĩ, chẳng hạn như aspirin hoặc ibuprofen (Advil, Motrin IB, những người khác). Những loại thuốc này cũng giúp giảm viêm. Thuốc giảm đau theo toa cũng có thể được sử dụng.
  • Colchicine (Colcrys, Mitigare): làm giảm viêm trong cơ thể, có thể được chỉ định cho viêm màng ngoài tim cấp tính hoặc như là một điều trị cho các triệu chứng tái phát.
    Colchicine có thể làm giảm thời gian của các triệu chứng viêm màng ngoài tim và giảm nguy cơ tình trạng này sẽ tái phát. Tuy nhiên, loại thuốc này không an toàn cho những người mắc một số vấn đề sức khỏe đã có từ trước, như bệnh gan hoặc thận và cho những người dùng một số loại thuốc. Bác sĩ sẽ kiểm tra cẩn thận tiền sử sức khỏe của bạn trước khi kê toa colchicine.
  • Corticosteroid: sử dụng nếu không đáp ứng với thuốc giảm đau hoặc colchicine hoặc nếu bạn có các triệu chứng viêm màng ngoài tim tái phát, bác sĩ có thể kê toa một loại thuốc steroid
  • Kháng sinh: Khi nhiễm trùng vi khuẩn là nguyên nhân cơ bản của viêm màng ngoài tim điều trị bằng kháng sinh và dẫn lưu nếu cần thiết.
Điều trị viêm màng ngoài tim
Điều trị viêm màng ngoài tim

Cần nhập viện nếu nghi ngờ chèn ép tim, biến chứng nguy hiểm của viêm màng ngoài tim do sự tích tụ dịch quanh tim. Khi chèn ép tim, có thể trải qua kỹ thuật gọi là chọc hút dịch màng ngoài tim.

2. Chữa trị viêm màng ngoài tim bằng ngoại khoa

Trong một số trường hợp nặng, viêm màng ngoài tim không thể dùng thuốc, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật loại bỏ màng ngoài tim.

  • Chọc hút dịch màng ngoài tim. Trong phần này, bác sĩ dùng kim tiêm vô trùng hay một ống nhỏ (ống thông) để loại bỏ nước và các chất lỏng dư thừa từ khoang màng ngoài tim. Được gây tê cục bộ trước khi trải qua chọc hút, thường được thực hiện với sự theo dõi siêu âm tim. Điều này có thể tiếp tục trong vài ngày trong quá trình nhập viện.
  • Cắt bỏ màng ngoài tim. Nếu được chẩn đoán viêm màng ngoài tim co thắt, có thể cần phải trải qua một thủ tục phẫu thuật (pericardiectomy) để loại bỏ toàn bộ màng ngoài tim đã trở nên cứng nhắc có ảnh hưởng đến các chức năng của tim.

3. Chữa trị viêm màng ngoài tim theo nguyên nhân

  • Viêm màng ngoài tim do virus.

Nguyên nhân chủ yếu do Coxackie virus nhóm B và Echovirus gây ra. Chẩn đoán dựa vào dấu hiệu nhiễm virus đường hô hấp, đau ngực xuất hiện sau đó với biến đổi ĐTĐ và cuối cùng là các xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán.

Đại đa số các trường hợp bệnh tự khỏi. Đôi khi có thể dẫn đến các biến chứng như viêm cơ tim, tái phát viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng tim, ép tim và viêm màng ngoài tim co thắt. Dấu hiệu lâm sàng và điều trị như trong các trường hợp viêm màng ngoài tim không rõ nguyên nhân.

  • Viêm màng ngoài tim do lao.

Tất cả các trường hợp viêm màng ngoài tim có sốt lai dai, nhất là về chiều thì trước hết cần phải nghĩ đến viêm màng ngoài tim do lao. Dấu hiệu lâm sàng điển hình thường đến muộn, đại đa số các bệnh nhân chỉ có biểu hiện khó thở, sốt, ớn lạnh và ra mồ hôi về chiều tối.

Viêm màng ngoài tim do lao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến viêm màng ngoài tim co thắt. Viêm màng ngoài tim gặp khoảng từ 1 đến 2% các trường hợp lao phổi.

Các xét nghiệm chẩn đoán bao gồm 

Điện tâm đồ: Đoạn ST chênh lên kinh điển thường không thấy trong viêm màng ngoài tim do lao.

Chụp tim phổi: thấy dấu hiệu của lao phổi mới hoặc cũ trong một số các trường hợp và dấu hiệu bóng tim to ra do có dịch ở màng ngoài tim.

Cấy tìm vi khuẩn lao BK (AFB): là xét nghiệm đặc hiệu cho chẩn đoán. Dịch cấy có thể lấy từ các dịch tiết của cơ thể (đờm, dịch dạ dày, dịch màng phổi…) hay từ chính dịch chọc hút của màng ngoài tim.

Xét nghiệm máu: thường tăng bạch cầu đa nhân giai đoạn sớm và bạch cầu lympho giai đoạn muộn hơn, máu lắng thường tăng trong đa số các trường hợp.

Siêu âm tim: Thấy dấu hiệu có dịch ở khoang màng tim với nhiều sợi fibrin, đồng thời có thể có dấu hiệu màng ngoài tim dày hơn so với bình thường.

Điều trị viêm mang ngoài tim do lao bằng thuốc: Rifampicin 600mg/ngày, Isoniazid 300mg/ngày, Pyridoxine 50mmg/ngày phối hợp với Streptomycin 1g/ngày hoặc Ethambutol 15mg/kg/ngày trong 6 đến 9 tháng.

Cần sớm phẫu thuật cắt màng ngoài tim trong các trường hợp tràn dịch tái phát gây ép tim nhiều lần hay màng ngoài tim dày nhiều dẫn đến viêm màng ngoài tim co thắt.

  • Viêm màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim:
  • Aspirin là lựa chọn điều trị hàng đầu.
  • Chống chỉ định các thuốc kháng viêm không steroid do có thể gây co thắt động mạch vành, còn các thuốc steroid thì lại có thể gây thủng tim trong viêm màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim cấp.
  • Hội chứng Dressler:

Xuất hiện vài tuần cho đến vài tháng sau nhồi máu cơ tim với tỷ lệ gặp khoảng 1%. Bệnh nhân thường có biểu hiện sốt, tràn dịch màng phổi, tiếng cọ màng tim, màng phổi, xỉu và đau ngực nhiều. Điều trị bằng Aspirin và thuốc chống viêm không steroid, nghỉ ngơi tại giường.

  • Hội chứng sau mở màng ngoài tim:

Hội chứng này cũng gần giống hội chứng Dressler, xuất hiện một tuần sau phẫu thuật. Bệnh thường tự khỏi song đôi khi kéo dài vài tuần. Điều trị bằng Aspirin, chống viêm không steroid, Corticoid chỉ dùng trong các trường hợp không đáp ứng với điều trị.

  • Viêm màng ngoài tim do tăng urê máu:
  • Điều trị nội khoa: Hạn chế sử dụng chống viêm không Steroid, Steroid nhiều khi đạt hiệu quả tốt.
  • Điều trị dẫn lưu dịch màng ngoài tim qua da: Lọc máu là lựa chọn hàng đầu cho các bệnh nhân viêm màng ngoài tim do tăng urê máu nếu có triệu chứng. Nếu không có triệu chứng của hội chứng urê máu cao thì lọc máu không phải là bắt buộc. Nếu tràn dịch màng tim số lượng nhiều với tăng bạch cầu, sốt hay có ép tim thì việc chọc dẫn lưu dịch màng tim là cần thiết.
  • Điều trị ngoại khoa :thực hiện tại cơ sở có trung tâm mổ tim. Mở màng ngoài tim dưới xương ức, cắt màng ngoài tim tối thiểu được chỉ định cho các trường hợp tái phát nhiều lần hoặc không hút dẫn lưu dịch qua da được.
  • Viêm màng ngoài tim do thấp tim:

Dùng thuốc điều trị theo phác đồ điều trị thấp tim, trường hợp này thường thấy dịch màng ngoài tim hấp thu nhanh sau điều trị

  • Viêm màng ngoài tim do ung thư:
  • Điều trị dẫn lưu dịch màng ngoài tim qua da:

Chọc dẫn lưu dịch màng tim: Rất tốt nếu có sự hướng dẫn của siêu âm, chỉ định cho các bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của tràn dịch màng ngoài tim mà số lượng khá nhiều.

Dùng bóng nong màng ngoài tim là kỹ thuật nguy hiểm hơn, chỉ nên áp dụng ở các bệnh nhân tái phát tràn dịch màng ngoài tim nhiều lần.

  • Phẫu thuật: có thể áp dụng một vài thủ thuật sau trong những trường hợp cần thiết:

Mở màng ngoài tim dưới xương ức.

Làm cứng màng ngoài tim bằng Tetracycline với nước muối sinh lý. Biến chứng có thể gặp của thủ thuật này là đau nhiều trong thủ thuật, rối loạn nhịp tim và sốt.

Cắt màng ngoài tim: Phẫu thuật này không là lựa chọn hàng đầu cho các bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim do ung thư.

4. Điều trị theo triệu chứng

Đau ngực: Có thể giảm đau bằng các thuốc như aspirin, diclofenac, thuốc an thần,…

Chống viêm dính màng ngoài tim với một số thuốc như αchymotripsin, indomethacin, prednisolon,…

Chứng ứ trệ tuần hoàn: Tiến hành chọc tháo dịch màng ngoài tim, giải phóng chèn ép tim sẽ giúp giảm và dứt điểm tình trạng ứ trệ tĩnh mạch

Các thuốc lợi tiểu và cường tim được dùng trong một số trường hợp cụ thể (nếu cần).

5. Điều trị viêm màng ngoài tim bằng Đông y

Về phương pháp chữa trị viêm màng ngoài tim bằng Đông y, theo Trung Quốc danh phương toàn tập dùng bài: “Kỷ tiêu hoàng hoàn” (Kim quỷ yếu lược) bao gồm: Kỷ tiêu hoàng hoàn, Phòng kỷ, Tiêu mục, Đình lịch tử, Đại hoàng.

Các vị trên tán bột làm hoàn to bằng hạt ngô đồng. ngày uống 3 lần mỗi lần 1 viên lúc bụng đói Công hiệu. đánh đuổi thủy ẩm, lợi thủy thông tiện.

6. Hỗ trợ điều trị viêm màng ngoài tim bằng Bi-Q10

Bi-Q10, giải pháp hỗ trợ điều trị viêm màng ngoài tim
Bi-Q10, giải pháp hỗ trợ điều trị viêm màng ngoài tim

Bi-Q10 là sản phẩm hỗ trợ điều trị các bệnh về tim mạch, đặc biệt là viêm màng ngoài tim nhanh chóng và hiệu quả. Sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, được nhập khẩu độc quyền và phân phối trực tiếp bởi BNC Medipharm – Công ty TNHH thương mại và dịch vụ y tế Bình Nghĩa.

Bi-Q10 là thuốc bổ tim mạch, ổn định huyết áp, giúp chống các gốc tự do, chống xơ vữa động mạch, cải thiện sức khỏe tim mạch và tăng cường sinh lực, sức bền, chống lão hóa, kéo dài sự trẻ trung cho người bình thường. 

Hỗ trợ điều trị các triệu chứng: Khó thở, đau tức ngực, đánh trống ngực, thường xuyên mệt mỏi, nhịp tim nhanh, thở nhanh, lo lắng, lòng bàn tay đổ mồ hôi, chóng mặt, ngất xỉu, mạch không đều…

Tác dụng tuyệt vời của sản phẩm Bi-Q10

  • Bi-Q10 tăng cường sức khỏe tim mạch, giảm nguy cơ tai biến mạch máu và xơ vữa động mạch, điều hòa huyết áp, giúp làm giảm cholesterol trong máu.
  • Hỗ trợ phòng ngừa bệnh tim mạch như suy tim, van tim, viêm màng ngoài tim… , nâng cao trí lực, dưỡng não.
  • Chống lão hóa, tăng cường miễn dịch miễn dịch, tốt cho mạch máu, da và mắt.
  • Hỗ trợ điều trị suy tim, thường dùng trong các triệu chứng liên quan đến suy tim có sung huyết nhẹ và vừa.
  • Sản phẩm Bi-Q10 giúp tăng cường hô hấp tế bào cơ tim, làm tim khỏe, ngăn cản virus gây viêm tim, làm chậm quá trình phát triển thành bệnh AIDS ở người nhiễm HIV. 
  • Chỉ định điều trị cho bệnh nhân đang dùng thuốc điều trị cao mỡ máu, giúp giảm cholesterol máu (trong rối loạn lipid máu) do thiếu hụt Coenzyme Q10.
  • Điều hòa, ổn định huyết áp.
  • Chống oxy hóa, chống lão hóa giúp cơ thể trẻ, khỏe, ngừa ung thư.
  • Phòng ngừa ngộ độc do tác động của các hóa chất trong môi trường sống.
  • Giải phóng năng lượng thừa, ngăn ngừa béo phì và tích mỡ có hại cho phủ tạng. 

Các thành phần có trong Bi-Q10:

  • Coenzyme Q10 (COQ10) 
  • EPA /DHA HY-Concentrate 
  • Dầu lanh (Flaxseed oil) 
  • Soy-lecithin 
  • Vitamin E (d-alpha Tocoferol) 
  • Gelatin 

Những ai có thể sử dụng sản phẩm Bi-Q10

Những người mắc các bệnh lý về tim mạch và huyết áp: Tăng, tụt huyết áp, suy tim, bệnh thiếu máu cơ tim mãn tính, hở van hai lá, hẹp van động mạch chủ, hẹp van hai lá…. Sau phẫu thuật, đặt stent…

Những người có các triệu chứng đau thắt ngực, rối loạn nhịp tim, hồi hộp, tim đập nhanh….

Những người thường xuyên bị hoa mắt, chóng mặt, đau nửa đầu, dùng đề phòng chống tai biến mạch máu não...

Lưu ý: Sản phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Bác sĩ - Thạc sĩ Phan Đăng Bình khuyên dùng sản phẩm B-Q10
Bác sĩ – Thạc sĩ Phan Đăng Bình khuyên dùng sản phẩm Bi-Q10

480c14745de1a7bffef0

VIII. Cách kiểm soát bệnh viêm màng ngoài tim

Người bệnh có thể kiểm soát tình trạng bệnh viêm màng ngoài tim của mình nếu lưu ý vài điều sau:

  • Tái khám đúng lịch hẹn để được theo dõi diễn tiến các triệu chứng cũng như tình trạng sức khỏe của bạn;
  • Nghe theo hướng dẫn của bác sĩ, không nên tự ý uống thuốc không được chỉ định hoặc bỏ thuốc trong toa được kê cho bạn;
  • Nghỉ ngơi đầy đủ, tránh hoạt động mạnh. Hoạt động gắng sức có thể gây ra các triệu chứng viêm màng ngoài tim.
  • Có chế độ ăn uống khoa học, tránh các đồ mặn, nhiều chất béo…
  • Ăn đủ no, không ăn quá nhiều để tránh tình trạng béo phì
  • Không hút thuốc lá và sử dụng quá nhiều các chất kích thích
  • Không ăn quá mặn, hạn chế đồ ngọt để kiểm soát bệnh tim mạch

IX. Bị viêm màng ngoài tim nên ăn gì?

Với các bệnh tim mạch nói chung và viêm màng ngoài tim nói riêng, người bệnh nên ăn một số thực phẩm sau để bảo vệ tim mạch của mình:

  • Ăn uống đa dạng: Bao gồm thức ăn có nguồn gốc từ động vật (thịt, cá, trứng, sữa) và thực vật (rau củ, hoa quả, gạo, mì, các loại đậu).
  • Bổ sung chất xơ, vitamin và chất khoáng: Chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lứt, bắp lứt, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp. Các loại rau củ và trái cây chứa nhiều chất có lợi cho sức khỏe là các flavonoid, các chất này hoạt động như các chất chống oxy hóa và có thể giảm nguy cơ viêm nhiễm, ngăn ngừa bệnh tim mạch.
  • Uống nước theo nhu cầu của cơ thể: Đối với một người khỏe mạnh, khi uống nhiều nước, tim và thận phải tăng hoạt động để thải bớt nước ra ngoài để giữ sự cân bằng trong cơ thể.

Ngược lại, ở người đã có bệnh tim hay bệnh thận, hai cơ quan này không còn hoạt động tốt nên nước sẽ bị giữ lại trong cơ thể gây ra triệu chứng khó thở, phù, thậm chí còn gây ra tình trạng “ngộ độc nước”, biểu hiện qua triệu chứng lơ mơ, hôn mê.Vì vậy, người bị bệnh tim mạch nên uống nước với lượng vừa phải mà cơ thể chấp nhận được.

X. Viêm màng ngoài tim không nên ăn gì?

Bệnh nhân bị viêm màng ngoài tim nên hạn chế một số đồ ăn sau để kiểm soát được những biến chứng của viêm màng ngoài tim:

Viêm màng ngoài tim không nên ăn gì?
Viêm màng ngoài tim không nên ăn gì?
  • Hạn chế ăn mặn: Thói quen ăn mặn là rất có hại, đây là một trong những nguyên nhân gây bệnh cao huyết áp. Huyết áp cao làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, suy thận, suy tim và xuất hiện các cơn đau tim.
  • Hạn chế ăn mặn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nếu bị bệnh suy tim, cao huyết áp, tức phải hạn chế muối, tất nhiên ngoài việc hạn chế sử dụng muối khi chế biến thức ăn còn phải loại bỏ tất cả thức ăn có nhiều muối natri ra khỏi khẩu phần ăn hàng ngày.
  • Hạn chế uống rượu, bia: Y học đã chứng minh việc nghiện rượu, bia có ảnh hưởng rất xấu đối với sức khỏe nói chung và bệnh tim mạch nói riêng. Với hệ tim mạch, rượu gây tổn thương cơ tim, tăng kích thước tim, giảm khả năng đẩy máu của tim, đồng thời rượu làm giãn các mạch máu ngoại vi, máu dồn ra ngoài da nhiều hơn.
  • Hạn chế thức ăn có nhiều chất béo: Lượng chất béo trong khẩu phần ăn hàng ngày của người bệnh tim chỉ nên chiếm 20-30% tổng năng lượng cung cấp cho cơ thể.

Việc ăn quá nhiều chất béo, đặc biệt là từ động vật, sẽ làm tăng lượng Cholesterol trong máu, tăng nguy cơ hình thành cục máu đông khiến lòng động mạch vốn hẹp do xơ vữa dễ dàng bít tắc dẫn đến nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Nên sử dụng dầu thực vật thay thế mỡ động vật, hạn chế các món chiên xào, tăng cường các món luộc, hấp.

  • Hạn chế đồ ngọt: Đường là chất cung cấp một lượng lớn gluxit và calo, không có vitamin và khoáng nên được gọi là chất chứa “calo rỗng”. Người thường xuyên ăn nhiều đường sẽ phát triển bệnh xơ vữa động mạch, tiểu đường…
 
bi cozyme video uploaded san pham thuoc tim mach Bi Q10 60 vien thumbcr 420x420 oncocess rx hop 30 vien
Bi-Cozyme - Ổn định huyết áp Bi-Q10 - Tốt cho tim mạch Oncocess Rx Tăng sức đề kháng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *